
ACID PUNCH - CẢI THIỆN CHẤT LƯỢNG NƯỚC VÀ NGĂN CHẶN MÀNG SINH HỌC
Thành phần:
Acid Fomic (min): 30%
Acid Acetic (min): 6,5%
Acid Propionic (min): 8,5%
Acid Lactic (min): 2,0%
Cơ chế tác động:
Acid Fomic là một acid béo mạnh ngắn, có cơ chế acid hóa trong tế bào chất, là giảm độ pH nội bào và môi trường xung quanh, gây ức chế vi khuẩn (Salmonella, E.coli).
Giảm pH: Acid Fomic làm giảm pH của thức ăn và đường tiêu hóa, tạo môi trường bất lợi cho vi khuẩn có hại (Gram (-)), hỗ trợ cho vi khuẩn có lợi phát triển.
Thâm nhập tế bào: Ở dạng không phân ly, Acid fomic dễ dàng xuyên qua màng tế bào của vi khuẩn. Khi vào trong tế bào, pH cao hơn khiến acid fomic phân ly, giải phóng H+ gây giảm pH nội bào, làm rối loạn enzym và tiêu diệt vi khuẩn.

Acid Fomic
Dược động học
Hấp thu
Sau khi đi qua đường uống, acid fomic được hấp thu chính ở ruột non (tá tràng-hỗng tràng). Ở pH thấp, tồn tại dạng không phân ly tan tốt trong lipid dễ xuyên qua màng tế bào ruột. Một phần nhỏ được hấp thu qua dạ dày tuyến và mề.
Phân bố
Sau khi hấp thu acid fomic sẽ chuyển thành dạng ion formate đi theo tĩnh mạch cửa về gan và phân bố chủ yếu ở gan.
Chuyển hóa
Cơ quan chuyển hóa chính là gan. Ở đây quá trình chuyển hóa diễn ra nhanh và gần như hoàn toàn và không gây tồn dư trong trứng và thịt.
Thải trừ
Acid fomic được đào thải chủ yếu qua đường hô hấp dưới dạng CO2
Acid Acetic là một acid hữu cơ yếu, tác động chủ yếu ở đường tiêu hóa thông qua 3 cơ chế chính: kháng khuẩn, acid hóa môi trường và hỗ trợ tiêu hóa.
Kháng khuẩn: ở môi trường pH thấp của dạ dày và đoạn đầu ruột, acid acetic tồn tại nhiều ở dạng không phân ly (CH3COOH), dễ dàng khuếch tán qua màng tế bào của vi khuẩn. Khi vào trong tết bào (pH trung tính), aicd acetic phân ly thành H+ và CH3COO-, làm giảm pH nội bào, phá vỡ cân bằng enzym và ức chế quá trình tạo năng lượng (ATP), từ đó kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn Salmonella, E.coli.
Acid hóa môi trường: acid acetic làm giảm pH đường tiêu hóa, tạo môi trường bất lợi cho vi khuẩn gây bệnh và thuận lợi cho vi khuẩn có lợi phát triển.
Hỗ trợ tiêu hóa: acid acetic làm tăng tiết dịch vị và hoạt hóa emzyme (đặc biệt là pepsin), giúp cải thiện tiêu hóa protein và tăng hấp thu khoáng chất như canxi và phospho. Đồng thời, việc giảm vi khuẩn có hại giúp cải thiện cấu trúc niêm mạc ruột (tăng chiều cao lông nhung), từ đó nâng cao hiệu quả hấp thu dinh dưỡng.
Phá vỡ màng sinh học (biofim): acid acetic phá vỡ cấu trúc polysaccharide của biofim từ đó giú kháng sinh dex dàng tiếp cận vi khuẩn hơn, làm tăng hiệu quả điều trị.

Acid acetic
Dược động học
Hấp thu
Sau khi đi qua đường uống, acid acetic được hấp thu chính ở ruột non (tá tràng-hỗng tràng). Ở pH thấp, tồn tại dạng không phân ly khuếch tán thụ động qua niêm mạc ruột, dạng ion acetate được hấp thu qua chất vận chuyển monocarboxylate. Một phần nhỏ được hấp thu qua dạ dày tuyến và mề.
Phân bố
Sau khi hấp thu acid acetic sẽ chuyển thành dạng ion acetate đi theo tĩnh mạch cửa về gan và chuyển hóa thành Acetyl-CoA. Phân bố chủ yếu ở gan và một phần ở cơ, niêm mạc ruột, mô mỡ.
Chuyển hóa
Cơ quan chuyển hóa chính là gan. Ở đây quá trình chuyển hóa diễn ra nhanh và gần như hoàn toàn và không gây tồn dư trong trứng và thịt.
Thải trừ
Acid acetic được đào thải chủ yếu qua đường hô hấp dưới dạng CO2
Acid lactic là một acid hữu cơ yếu có cơ chế tác động chủ yếu tại đường tiêu hóa thông qua khả năng xuyên màng tế bào vi khuẩn và acid hóa nội bào. Ở môi trường pH thấp, acid lactic tồn tại dưới dạng không phân ly, dễ dàng khếch tán qua màng tế bào vi khuẩn, khi vào trong màng tế bào acid lactic phân ly thành ion lactate (C3H503-) và H+, làm giảm pH nội bảo, làm rối loạn enzyme và ức chế quá trình tổng hợp ATP, từ đó kìm hãm hoặc tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh như E.coli, Salmonella và Clostridium.
Acid lactic còn làm giảm pH đường ruột, tạo môi trường bất lời cho vi khuẩn gây hại và tạo môi trường thuận lợi cho vi khuẩn có lợi đặc biệt là nhóm vi khuẩn Lactobacillus.
Acid lactic còn làm phá vỡ màng biofim của vi khuẩn làm vi khuẩn nhạy cảm hơn với kháng sinh, tăng hiệu quả điều trị.

Acid lactic
Dược động học
Hấp thu
Acid lactic được hấp thu chính ở ruột non (tá tràng-hỗng tràng). Ở pH thấp, tồn tại dạng không phân ly (C3H6O3) khuếch tán thụ động qua niêm mạc ruột, dạng ion (C3H5O-) được hấp thu thông qua chất vận chuyển monocarboxylate. Một phần nhỏ được hấp thu qua dạ dày tuyến và mề.
Phân bố
Sau khi hấp thu acid lactic sẽ chuyển thành dạng ion (C3H5O-) đi theo tĩnh mạch cử về gan sau đó phân bố chủ yếu ở gan và một phần ở cơ, niêm mạc ruột, mô mỡ.
Chuyển hóa
Cơ quan chuyển hóa chính là gan. Lactate (C3H5O-) là một chất trung gian sinh lý quan trọng, được chuyển hóa thành pyruvate nhờ enzym lacteta dehydrogenase. Pyruvate tiếp tục tham gia chu trình Krebs để tạo năng lượng (ATP).
Thải trừ
Acid lactic được đào thải chủ yếu qua đường hô hấp dưới dạng CO2
Acid propionic là một acid hữu cơ yếu có tác dụng nổi bật trong ức chế nấm mốc và vi khuẩn đường ruột, thông qua cơ chế acid nội bào tương tự các acid hữu cơ khác nhưng có ưu thế đặc biệt trên nấm.
Ở pH thấp, acid propionic tồn tại ở dạng không phân ly (C3H6O2) có khả năng khếch tán qua màng tế bào vi sinh vật, khi vào môi trường nội bào có pH cao hơn, nó phân ly thành ion propionate (C2H5COO-) và H+, làm giảm pH nội bào, phá vỡ cân bằng enzyme và ức chế các quá trình chuyển hóa quan trọng như tổng hợp ATP. Đồng thời sự tích tụ propionate trong tế bào gây rối loạn áp suất thẩm thấu và ức chế con đường chuyển hóa carbohydrate của vi sinh vật.
Đặc biệt, acid propionic có hiệu quả mạnh trên nấm mốc và nấm men do acid propionic có khả năng ức chế tổng hợp DNA và protein của chúng.

Acid propionic
Dược động học
Hấp thu
Sau khi đi qua đường uống, acid propionic được hấp thu chính ở ruột non (tá tràng-hỗng tràng). Ở pH thấp, tồn tại dạng không phân ly (C3H6O2) khuếch tán thụ động qua màng tế bào ruột, dạng ion propionate (C2H5COO-) được hấp thu qua các chất vận chuyển monocarboxylate. Một phần nhỏ propionate được hấp thu ở manh tràng do quá trình lên men vi sinh.
Phân bố
Sau khi hấp thu acid propionic sẽ tồn tại dưới dạng propionate(C2H5COO-) đi theo tĩnh mạch cử về gan sau đó phân bố chủ yếu ở gan và một phần ở cơ, niêm mạc ruột.
Chuyển hóa
Quá trình này diễn ra chủ yếu tại gan. Propionate được hoạt hóa thành propionyl-CoA, sau đó chuyển thành methylmalonyl-CoA và cuối cùng là succinyl-CoA để đi vào chu trình Krebs.
Thải trừ
Acid propionic được thải trừ chủ yếu qua đường hô hấp dưới dạng CO2
Tương tác thuốc
Tương tác với kháng sinh: tăng hiệu quả với nhóm kháng sinh β-lactam, tetracyline (môi trường acid giúp ổn định hơn). Giảm hiệu quả với nhóm kháng sinh nhạy pH hoặc dễ bị phân hủy trong môi trường acid.
Tương tác với vaccine sống: pH thấp của nước uống làm giảm bất hoạt virus/vi khuẩn sống giảm độc lực. Làm giảm hoặc mất động lực của vaccine (Vaccine Newcastle, vaccine Gumboro).
Khuyến cáo: nên ngưng sử dụng acid punch 24-48 giờ trước và sau khi dùng vaccine.
Công dụng:
Giúp loại bỏ và rửa trôi màng sinh học.
Ngăn ngừa sự hình thành của màng sinh học trong đường ống.
Giảm độ pH của nước uống. Ức chế hoặc tiêu diệt vi khẩn có hại, tạo môi trường thuận lợi cho vi khẩn có lợi phát triển.
Kích thích ăn uống, tăng khả năng hấp thu thức ăn.
Liều lượng:
Gà: Pha 0,3ml-1ml acid punch với 1l nước uống (tùy theo độ pH của nước uống).
Heo: Pha 0,3ml-1ml acid punch với 1l nước uống (tùy theo độ pH của nước uống).
Xuất xứ
NSX: Herbavita - Hà Lan.
Thông tin liên hệ
| Hỗ trợ kỹ thuật gà: |
0908 012 238 |
| Hỗ trợ kỹ thuật heo: |
0934 555 238 |
| Hỗ trợ kỹ thuật : |
0982 984 585 |
| Chăm sóc khách hàng: |
0934 469 238 |